Thành tựu nghiên cứu nổi bật

Giới thiệu về các thành tựu nghiên cứu khoa học nổi bật của Viện Kỹ thuật nhiệt đới

Viện Kỹ thuật nhiệt đới trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 248/CP ngày 8/8/1980 của Hội đồng Chính phủ. Viện có chức năng nghiên cứu cơ bản, điều tra cơ bản, phát triển công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao trong lĩnh vực kỹ thuật nhiệt đới và các lĩnh vực khác có liên quan theo quy định của pháp luật.

Từ năm 1980 đến nay, Viện đã chủ trì hai chương trình trọng điểm nhà nước về kỹ thuật nhiệt đới 48.08 (giai đoạn 1981 – 1985) và 48D (giai đoạn 1986 – 1990), chủ trì 22 đề tài trọng điểm, 03 đề tài độc lập, 01 dự án điều tra môi trường, 06 dự án sản xuất thử, thử nghiệm, hàng chục đề tài nghiên cứu cơ bản cấp nhà nước, 55 đề tài và 16 dự án sản xuất thử, thử nghiệm cấp Bộ, sở ngành, 03 đề tài nghị định thư cấp Nhà nước… Ngoài ra, Viện còn thực hiện các dự án do nước ngoài tài trợ (Pháp, Đức, Bỉ...). Đặc biệt, năm 2013 Viện đã được Vương Quốc Bỉ tài trợ hơn 400 nghìn Euro và sẽ thành lập một trung tâm tiềm năng với những thiết bị phục vụ cho nghiên cứu ăn mòn và điện hóa ứng dụng, Trung tâm này dự kiến sẽ được khai trương vào tháng 4 năm 2015.

Viện Kỹ thuật nhiệt đới là một trong 19 cơ sở đào tạo Tiến sĩ của Viện Hàn lâm với 3 mã ngành đào tạo: Hóa lí thuyết và Hóa lí, Vật liệu cao phân tử và tổ hợp, Hóa Hữu cơ. Từ năm 2005 đến nay Viện đã đào tạo thành công 6 tiến sĩ và hiện nay đang có 31 nghiên cứu sinh thực hiện luận án tiến sĩ tại Viện. Ngoài ra phối hợp với nước ngoài từ năm 1996 đến nay đã có 15 cán bộ bảo vệ thành công luận án tiến sĩ tại Pháp, Nhật, Anh, Hàn Quốc.

Kết quả của các đề tài, dự án của Viện đã được thể hiện trên 1300 công trình công bố trong và ngoài nước và hàng trăm hợp đồng ứng dụng triển khai với kinh phí trên 50 tỷ đồng. Viện đã có 1 bằng phát minh do Tổ chức trí tuệ thế giới cấp năm 2006 và Cơ quan phát minh, sáng chế Châu  Âu cấp năm 2007, 1 bằng độc quyền giải pháp hữu ích năm 2014.

Về hợp tác quốc tế, Viện có hợp tác với nhiều nước phát triển: Pháp, Hàn Quốc, Bỉ, Anh, Thụy sĩ, Đức, Mỹ, Nga, Nhật Bản, Úc… Hàng năm có nhiều cán bộ được cử đi thực tập hoặc làm luận án tiến sĩ tại các nước trên.

Từ các đề tài nghiên cứu và các dự án sản xuất đã thực hiện, Viện Kỹ thuật nhiệt đới đã thu được nhiều kết quả nổi bật ở 4 hướng nghiên cứu chính cuả Viện trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng.

1. Hướng vật liệu và lớp phủ vô cơ

Có 2 loại sản phẩm chính là các lớp mạ kẽm và kẽm – niken, các lớp phun phủ kim loại. 

- Từ 1995 đến 2001: là đơn vị duy nhất (nhà thầu phụ, B’) mạ cho 20 cơ sở sản xuất phụ tùng xe máy cho VMEP (Diesel Sông Công, Phụ tùng 1, Công ty Dụng cụ cơ khí xuất khẩu (y cụ), Vinakit...).

- Từ năm 2001 đến 2006: Nhà thầu phụ cho Công ty Cơ khí chính xác 1 (Đài Loan) nhà thầu cung ứng toàn bộ chi tiết sản xuất tại Việt Nam cho Yamaha Vĩnh Phúc.

- Hàng năm mạ khoảng 200.000 - 400.000 m2 các lớp mạ kẽm hoặc kẽm - niken.

- Đã tiến hành chế tạo lớp phun phủ kim loại, phục hồi các trục động cơ, trục máy nghiền, máy xúc, cánh turbin của Nhà máy nhiệt điện Cao Ngạn, Công ty TNHH Nhà nước một thành viên chế tạo động cơ điện và Nhà máy thủy điện Nà Lơi - Điện Biên.

Công nghệ tạo vi môi trường kín khí nghèo ôxy, duy trì lâu dài, có đo kiểm nhiệt ẩm, nồng độ ôxi nhằm ứng dụng: 

  • Bảo quản lương thực 3 trong 1 (phòng chống oxi hóa - suy giảm chất lượng, làm ngạt chết mối mọt, côn trùng và diệt men nấm mốc) không độc hại.
  • Bảo quản vật tư, thiết bị.
  • Bảo quản tranh ảnh nghệ thuật và các văn hóa phẩm khác.
Ống khử ôxy có van Sản phẩm chất khử ôxi Bảo quản 100 tấn thóc gạo bằng chất khử oxy tại Chi cục dự trữ Hà Trung, Thanh Hóa

Công nghệ bảo quản nhiệt đới nghèo ôxy trong vi môi trường kín khí

2. Vật liệu bảo vệ hữu cơ:

Sơn cách điện cấp F: có khả năng làm việc ở 155oC trong 20.000 giờ vẫn giữ được các tính năng kỹ thuật cần thiết, được sử dụng làm sơn tẩm cách điện dùng cho các động cơ, biến thế công suất lớn làm việc trong điều kiện khắc nghiệt. Từ năm 1998 đến nay, Viện Kỹ thuật nhiệt đới là cơ sở duy nhất trong nước sản xuất loại sơn này. Công ty Chế tạo thiết bị điện Cẩm Phả, Quảng Ninh đã sử dụng 15 tấn sơn này để bảo dưỡng, chế tạo các máy phát điện của nhà máy Nhiệt điện Phả Lại, Uông Bí, nhà máy Thuỷ điện Thác Bà, hàng nghìn quạt gió cục bộ trong hầm lò ở mỏ than Quảng Bình, hàng nghìn động cơ máy xúc, toàn bộ các động cơ máy cào, các biến áp phòng nổ, chiếu sáng hầm lò của các mỏ than ở Quảng Ninh, các động cơ máy phát điện của một số đoàn tầu Bắc - Nam tuyến Hà Nội - Thành phố Hồ Chí Minh và các trạm bơm nước.

- Sơn đặc chủng tuổi thọ cao trong điều kiện khắc nghiệt: (sơn phản nhiệt mặt trời, sơn bền hoá chất, sơn bền thời tiết...) với tổng khối lượng trên 500 tấn đã cung cấp cho các cơ sở sản xuất để bảo vệ các công trình kim loại (bên trong và bên ngoài các bồn bể chứa xăng dầu, cầu, đường ống công trình thủy điện, thiết bị xử lý rác thải...), các công trình bê tông (cảng, sàn nhà các phân xưởng...).

- Vật liệu polyme- composit bảo vệ chống ăn mòn trong môi trường khắc nghiệt: Đã chế tạo trên 15.000 m2 vật liệu polyme - composit bảo vệ chống ăn mòn cho các xitéc vận tải chuyên dụng của ngành đường sắt và môi trường đô thị.

3. Vật liệu cao su, chất dẻo và vật liệu trộn hợp

Đã chế tạo và cung cấp gần 4 triệu sản phẩm căn nhựa, coray từ polyme blend cho các công ty công trình, công ty quản lý đường sắt và các xí nghiệp của Tổng công ty đường sắt Việt Nam. Các sản phẩm trên phục vụ có hiệu quả nhu cầu xây dựng mới, duy tu bảo dưỡng, nâng cấp đường sắt cũng như khắc phục các sự cố do thiên tai và bão lụt gây ra. Chúng đáp ứng yêu cầu chạy tàu trên các khổ đường 1.000 mm (≥ 16 tấn/trục), 1.435 mm (≥ 26 tấn/trục) và ở các điều kiện địa hình, thời tiết khác nhau, kể cả các đường cong có bán kính nhỏ (R ≤ 150 m). Viện cũng đã cung cấp cho Xí nghiệp cao su đường sắt 12.000 kg vật liệu polyme blend PA-ND2 để sản xuất các sản phẩm đàn hồi cho tà vẹt bê tông đường sắt. Với chất lượng cao, thích hợp với khí hậu nhiệt đới, các sản phẩm này đã góp phần vào việc nâng tốc độ chạy tầu, tiết kiệm năng lượng, rút ngắn thời gian chạy tầu Thống Nhất (Hà Nội – Thành phố Hồ Chí Minh) từ 40 giờ (năm 1998) xuống 29 giờ (năm 2004), nhờ đó tiết kiệm cho ngân sách nhà nước nhiều tỷ đồng. Đặc biệt, vật liệu polyme blend PA-ND2 của Viện đã được sử dụng để sản xuất lõi nhựa xoắn kiểu dáng Vossloh (CHLB Đức) lắp đặt trên tà vẹt bê tông dự ứng lực ở một số tuyến đường sắt. Vật liệu polyme blend làm lõi xoắn Vossloh đã đáp ứng yêu cầu chất lượng và đảm bảo tốc độ chạy tầu trung bình 120 km/giờ. Đây là điều kiện quan trọng để có thể ứng dụng vật liệu này trên tuyến đường sắt xuyên Á qua lãnh thổ Việt Nam.

Đã chế tạo và ứng dụng các chất tương hợp PE-g-AA, PE-g-AAm, PP-g-MA cho tổ hợp PE/cao lanh để chế tạo khoảng 1 triệu dây niêm phong cho ngành hàng không và ngành dầu khí.

4. Chi tiết, thiết bị điện và điện tử

- Van chống sét:

Đã cung cấp cho ngành điện hơn 100 bộ van chống sét 22 kV, gần 1000 bộ van chống sét 6 kV, 10 kV, 15 kV để bảo vệ các trạm biến áp chống sét.
Đã cung cấp cho các xí nghiệp công nghiệp, các trạm điện của ngành bưu chính viễn thông hơn 10.000 bộ van chống sét hạ thế GZ-500 để bảo vệ các tủ, trạm điện hạ áp khỏi quá áp.

- Thiết bị dạy nghề điện - điện tử:

Đã thiết kế, chế tạo hơn 300 thiết bị thực hành điện - điện tử cho các trường dạy nghề, cao đẳng, đại học trong cả nước.

Các sản phẩm của Viện đã thay thế các sản phẩm nhập ngoại với giá thành chỉ bằng 1/3 ÷1/2.

Nhìn chung, trong quá trình xây dựng và phát triển, Viện Kỹ thuật nhiệt đới đã trưởng thành về nhiều mặt: Đội ngũ cán bộ được nâng cao về chất, trong 5 năm 2009-2014, Viện đã được bổ nhiệm 01 giáo sư và 06 phó giáo sư, 10 cán bộ bảo vệ thành công luận án tiến sĩ ở trong và ngoài nước. Cơ sở vật chất được tăng cường, các thiết bị được Viện Hàn lâm đầu tư và từ các đề tài, dự án trong nước và quốc tế. Đặc biệt, được Nhà nước đầu tư xây dựng tòa nhà 6 tầng với tổng diện tích 3000 m2 sẽ được hoàn thành và đưa vào sử dụng năm 2014. Cơ sở thử nghiệm tự nhiên: Ngoài trạm thử nghiệm nhiệt đới tại Quảng Ninh (hoạt động từ năm 2000), Nha Trang (hoạt động từ năm 2005), từ năm 2007, Viện Kỹ thuật nhiệt đới có thêm cơ sở thử nghiệm tại Trạm đa năng Quảng Bình và Tam Đảo. Với đội ngũ cán bộ có trình độ cao, cơ sở vật chất tốt, hợp tác quốc tế ngày càng phát triển trong nhiều lĩnh vực, Viện đã đề xuất và thực hiện thành công các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cơ bản và nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ, đáp ứng nhu cầu của đất nước trong giai đoạn 2015-2020.

Một số hình ảnh sản phẩm tiêu biểu của Viện Kỹ thuật nhiệt đới:

Các lớp mạ điện phân Zn-Ni đã đư¬ợc các công ty sản xuất xe gắn máy của Nhật Bản tại Việt Nam tin dùng Phun kẽm bảo vệ chống ăn mòn cửa van công trình thuỷ lợi Trà Linh, Thái Bình
Sơn cách điện cấp F dùng để tẩm các động cơ máy mỏ (làm việc trong điều kiện khắc nghiệt nhiệt độ, độ ẩm cao) tại công ty chế tạo thiết bị điện Cẩm Phả Bảo vệ chống ăn mòn các bồn chứa xăng dầu tại công ty xăng dầu B12, Hạ Long, Quảng Ninh
Khung chắn gió đầu toa xe lửa từ  blend cao su cho ngành đường sắt Đệm chống va đập tàu thuỷ

Nguồn tin: Viện Kỹ thuật nhiệt đới
Xử lý tin: Thanh Hà

 

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: thongtin@vast.vn
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".