Thành tựu nghiên cứu nổi bật

Thành tựu qua 38 năm (1976-2014) hoạt động khoa học của Viện Địa lý tài nguyên Thành phố Hồ Chí Minh

Trải qua 38 năm hoạt động khoa học, Viện Địa lý tài nguyên Tp. Hồ Chí Minh phát triển từ Tổ Địa học (1976-1980), Phòng Địa học (1980-1986), Trung tâm Địa học tại Tp. Hồ Chí Minh (1986-1993), Phân viện Địa lý tại Tp. Hồ Chí Minh (1993-2007). Ngay từ những năm đầu mới được thành lập, Tổ Địa học được giao tổ chức thực hiện đề tài “Điều tra tổng hợp vùng đất phèn nằm giữa hai huyện Tam Nông và Hồng Ngự”. Đây được xem là lần đầu tiên Phòng Địa học tổ chức điều tra cơ bản với nhiều chuyên đề và công tác tổng hợp có sự tham gia của các cán bộ khoa học chuyên ngành thuộc nhiều bộ, ngành và địa phương. Đến năm 1982, từ các kết quả nghiên cứu, tập thể tác giả đã xác định được các vùng tự nhiên thích hợp cho từng đối tượng cây trồng, vật nuôi và các đối tượng khai thác tự nhiên khác của vùng nghiên cứu.

Đến cuối năm 1983, trong khuôn khổ Chương trình Khoa học Kỹ thuật trọng điểm của Nhà nước “Điều tra cơ bản tổng hợp vùng Đồng bằng sông Cửu Long - Giai đoạn II (Mã số 60-02)”, Phòng Địa học được giao chủ trì công tác “Điều tra cơ bản tổng hợp có định hướng vùng Đồng Tháp Mười” với mục tiêu đánh giá tổng hợp tiềm năng kinh tế tự nhiên vùng Đồng Tháp Mười và qua đó đề xuất các phương án sản xuất thích hợp theo hướng phát triển nông nghiệp toàn diện và bảo vệ môi trường sinh thái tự nhiên. Kết quả nghiên cứu của Chương trình 60-02 cho thấy vùng Đồng Tháp Mười có tiềm năng kinh tế tự nhiên khá phong phú, nhất là khả năng sản xuất lương thực và thực phẩm, có đủ các điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển sản xuất lương thực, cây công nghiệp, cây ăn trái, chăn nuôi gia súc và gia cầm, nuôi trồng thủy sản,… và nhiều khoáng sản như sét gạch ngói, gốm sứ, than bùn, cát,… Mùa xuân năm 1988, lần đầu tiên trong vùng Đồng Tháp Mười có một diện tích lúa đông xuân mới mở gần 40.000ha. Đây là bước ngoặt quan trọng trong khai thác và phát triển kinh tế-xã hội vùng Đồng Tháp Mười. Thành công lớn nhất, nổi bật nhất của quá trình khai thác vùng Đồng Tháp Mười là đã làm biến đổi hoàn toàn một vùng có hệ sinh thái tự nhiên hoang dã, dân cư thưa thớt, cơ sở hạ tầng xã hội và kỹ thuật yếu kém thành một vùng có hệ sinh thái nông nghiệp phát triển với năng suất cao, dân cư đông đúc và đời sống người dân ngày càng nâng cao. Năm 2012, tập thể tác giả được trao Giải Nhân tài đất Việt trong lĩnh vực khoa học tự nhiên.

Mặc dù sản xuất lương thực tăng nhanh, nhưng nhìn chung công tác khai thác vùng Đồng Tháp Mười chưa toàn diện và môi trường sinh thái tự nhiên đang bị mất cân đối nghiêm trọng, nhất là việc sử dụng tài nguyên nước. Trước thực tế đó, Phân viện Địa lý tại Tp. Hồ Chí Minh tổ chức Hội nghị khoa học “Sử dụng tài nguyên nước và hạn chế lũ lụt vùng Đồng Tháp Mười” do GS.VS. Nguyễn Văn Hiệu chủ trì tại thị xã Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp trong hai ngày 27-28/11/1995. Trong Hội nghị, vấn đề lũ lụt và điều khiển lũ đã được bàn luận nhiều. Đáng chú ý, cũng từ Hội nghị này, khái niệm “sống chung với lũ” đã được đề cập và phổ biến đến ngày nay. Sau Hội nghị, Phân viện Địa lý tại Tp. Hồ Chí Minh đã phối hợp với các cán bộ khoa học của các Bộ ngành tổ chức thực hiện Dự án “Thoát lũ ra Biển Tây” (1997). Kết quả nghiên cứu cho thấy vấn đề thoát lũ ra Biển Tây chính là điều chỉnh lại những bất lợi, hạn chế tối đa mặt hại và tận dụng triệt để mặt lợi của lũ. Từ kết quả nghiên cứu của dự án “Thoát lũ ra Biển Tây”, Chính phủ đã chấp thuận và giao cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thiết kế thi công xây dựng “Hệ thống thoát lũ ra Biển Tây” trong năm 1999. Chỉ trong thời gian từ tháng 4/1999 đến trước mùa lũ năm 1999, khoảng 04 tháng, một số công trình chính đã hoàn thành. Trọng tâm là kênh T5, nay được Hội đồng Nhân dân tỉnh An Giang đặt tên là kinh Võ Văn Kiệt. Qua 15 năm hoạt động, hệ thống công trình thoát lũ ra Biển Tây đã mang lại hiệu quả lớn về kinh tế-xã hội cho vùng Tứ Giác Long Xuyên như: thoát lũ nhanh ra Biển Tây; kiểm soát được lũ tháng 8 để bảo vệ vụ lúa hè-thu; cải tạo được một vùng đất rộng lớn bị chua phèn và mặn chỉ trồng được cây bạch đàn, tràm cừ và khoai mì thành vùng sản xuất lúa 2-3 vụ/năm, nâng tổng sản lượng lương thực hiện nay của hai tỉnh Kiên Giang, An Giang lên gấp 3 lần; giảm nhẹ được thiên tai bão lũ, bảo vệ được tài sản và tính mạng người dân trong vùng lũ; đời sống người dân trong vùng Tứ Giác Long Xuyên đã được cải thiện. Năm 2013, tập thể tác giả được trao Giải thưởng Nhân tài đất Việt trong lĩnh vực Khoa học tự nhiên.

dia ly tai nguyen anh 1 dia ly tai nguyen anh 2
Hội nghị khoa học sử dụng tài nguyên nước và hạn chế hậu quả lũ lụt vùng ĐTM Đầu kênh T5 - Vĩnh Tế lúc mới thông dòng chảy

Song song với các hoạt động khoa học ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, từ năm 1991, theo yêu cầu của lãnh đạo ba tỉnh Thừa Thiên - Huế, Quảng Trị, Quảng Bình và được sự ủng hộ của Viện Khoa học Việt Nam, Trung tâm Địa học tại Tp. Hồ Chi Minh đã chủ trì thực hiện Chương trình “Xây dựng luận cứ khoa học cho khai thác và sử dụng hợp lý vùng gò đồi núi thấp và cát nội đồng ven biển Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế” (1991-1995). Mục tiêu chính của Chương trình là điều tra, bổ sung, phúc tra, hiệu chỉnh và tổng hợp có định hướng việc khai thác và phát triển kinh tế-xã hội vùng lãnh thổ của ba tỉnh. Qua ba năm thực hiện (1993-1995), Chương trình đã phát hiện được tiềm năng nông-lâm-ngư nghiệp trong vùng nghiên cứu. Qua đó, hai tỉnh Thừa Thiên - Huế và Quảng Trị tiếp tục giao thực hiện tiếp hai đề tài “Điều tra cơ bản tổng hợp có định hướng huyện Nam Đông (Thừa Thiên - Huế) và huyện Cam Lộ (Quảng Trị)”. Nổi bật là phát hiện được tiềm năng phát triển cây cao su của huyện Nam Đông. Đến năm 2006, tỉnh Thừa Thiên - Huế đã trao giải thuởng Cố Đô loại A cho đề tài này.

Năm 2003 và năm 2006, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Thừa Thiên - Huế đã giao cho Phân viện Địa lý tại Tp. Hồ Chí Minh chủ trì đề tài: “Điều tra đánh giá tiềm năng đất đai vùng cát nội đồng tỉnh Thừa Thiên - Huế phục vụ phát triển nông-lâm-ngư nghiệp và đề tài “Xác định sự phân bố không gian của lớp kè dưới mặt đất trong hai huyện Phong Điền và Quảng Điền tỉnh Thừa Thiên - Huế”. Kết quả điều tra, khảo sát cho phép phân chia tổng quát vùng nghiên cứu thành 8 vùng có tiềm năng hay không có tiềm năng nông-lâm-ngư nghiệp trên cơ sở phát hiện sự ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực của lớp kè. Từ đó, đề nghị các huyện Phong Điền và Quảng Điền quy hoạch lại vùng cát nội đồng và quan tâm hơn nữa việc phát triển hợp lý, có hiệu quả kinh tế các tiềm năng tự nhiên nông-lâm-ngư nghiệp của vùng nghiên cứu. Năm 2011, đề tài này cũng được tỉnh Thừa Thiên - Huế trao giải thưởng Cố Đô loại B.

Nguồn tin: Viện Địa lý tài nguyên TP HCM
Xử lý tin: Bích Diệp 

 

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: thongtin@vast.vn
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".