Thành tựu nghiên cứu nổi bật

Thành tựu nghiên cứu khoa học nổi bật của Viện Sinh học nhiệt đới

Viện Sinh học nhiệt đới được thành lập theo Quyết định số 22/QĐ-TTKHTN&CNQG ngày 19/6/1993 của Giám đốc Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia nay là Viện Hàn lâm KHCN VN. Hiện nay cơ cấu tổ chức của Viện gồm 1 phòng Quản lý tổng hợp; 8 phòng nghiên cứu, phòng thí nghiệm trọng điểm phía Nam về công nghệ tế bào thực vật. Đội ngũ cán bộ trên đại học của Viện (tính cả biên chế và hợp đồng) có 6 PGS, 23 tiến sỹ (trong đó có 2 TSKH), 27 thạc sỹ. Cán bộ trong biên chế của Viện là 74 người, khoảng 60 cán bộ hợp đồng.

Từ khi thành lập cho đến nay, Viện đã chủ trì rất nhiều đề tài NCKHCN các cấp, bao gồm các đề tài NCCB; đề tài cấp Nhà nước, đề tài cấp Bộ và cấp Viện Hàn lâm  KHCN VN; đề tài HTQT, đề tài cấp Sở KHCN các tỉnh, thành phố... Năm 2004, Viện đã được Nhà nước giao nhiệm vụ xây dựng Phòng thí nghiệm trọng điểm phía Nam về Công nghệ tế bào thực vật với kinh phí 53 tỷ đồng. Phòng thí nghiệm đã hoàn thành và đi vào hoạt động. Ngoài nghiên cứu cơ bản, các hoạt động triển khai công nghệ và ứng dụng kết quả khoa học vào thực tiễn cũng luôn được chú trọng và đã gặt hái được nhiều thành công trong thời gian gần đây. Cho đến nay, Viện có khoảng trên 30 sản phẩm các loại được phép lưu hành trên thị trường, trong đó khoảng 20 sản phẩm (các loại phân bón lá và thuốc kích thích ra hoa, đậu trái) đã được đưa vào danh mục cho phép chính thức lưu hành của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn. Tổng doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh của Viện đã tăng từ khoảng 500 triệu đồng năm 2000 lên 1 tỷ đồng năm 2004, đạt khoảng 3 tỷ đồng vào năm 2005 và duy trì ổn định ở mức trên 7 tỷ đồng cho đến nay.

Từ các đề tài nghiên cứu và các dự án sản xuất đã đảm nhiệm, Viện Sinh học Nhiệt đới đã gặt hái được nhiều kết quả nổi bật ở tất cả các hướng nghiên cứu chính của Viện.

Hướng Công nghệ tế bào thực vật là một hướng nghiên cứu cơ bản và ứng dụng quan trọng của Viện. Thời gian qua Viện tập trung vào việc hoàn thiện công nghệ nuôi cấy mô các cây lương thực, cây ăn quả, cây thuốc, cây dược liệu, các cây nhóm hoa. Từ đầu những năm 2000, đã tập trung vào công nghệ nuôi cấy mô các cây công nghiệp như cà phê, hồ tiêu và nhóm cây lâm nghiệp thân gỗ như Paulownia, dó bầu, Neem.... Hoàn chỉnh công nghệ nhân nhanh, phục tráng giống, tạo các giống cây trồng nông lâm nghiệp sạch bệnh. Nghiên cứu cải thiện điều kiện nuôi cấy invitro, biorector cho các cây có giá trị như cây thuốc, cây lấy dầu, hoa lan, cây cảnh... Lần đầu tiên trong nước/ngoài nước, các nhà nghiên cứu đã nuôi cấy thành công mô phôi vô tính (soma), mô chồi sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv.) trong môi trường lỏng tạo điều kiện rất thuận lợi cho việc nhân sinh khối quy mô lớn tạo sản phẩm có khả năng thương mại hóa. Tạo và nuôi nhân rễ bất định sâm Ngọc Linh và bước đầu ghi nhận được sự hình thành rễ tơ (hairy root) sâm Ngọc Linh nhờ vi khuẩn Agrobacterium rhizogenes, tạo điều kiện cho việc nuôi nhân quy mô lớn sinh khối nhằm thu hoạt chất phục vụ ngành mỹ phẩm và y dược. Tạo thành công mô sẹo/rễ bất định hai cây dược liệu quý là Xạ đen và Tam thất nhằm nhân nhanh sinh khối phục vụ sản xuất hợp chất thứ cấp. Đã nhân giống thành công giống lan đặc hữu Việt Nam (Dendrobium farinatum Schildh. et Schraut). Các kết quả này có thể được sử dụng để chuyển giao công nghệ/đăng ký giải pháp hữu ích/bảo hộ sáng chế.

sinh hoc nhiet doi 3Quy trình nhân giống invitro cây chuối già lùn

Hướng Công nghệ gen thực vật

Mặc dù đang chỉ là những nghiên cứu trong phòng thí nghiệm nhưng Viện cũng là một trong những đơn vị đi đầu trong lĩnh vực nghiên cứu chuyển gen vào thực vật. Đã tạo được plasmid mang tên Viện – ITB I và II. Đã tạo được cây lúa, rau cải, thuốc lá, cây Paulownia, cà chua, cà tím chuyển gen Bt, gen kháng sâu, kháng thuốc diệt cỏ và đang chuyển gen vào cây thân gỗ. Lần đầu tiên ở Việt Nam, đã xây dựng thành công quy trình nghiên cứu chuyển gien mã hóa protein HIV-1-p24 (từ Human immunodeficiency virus - HIV) vào lục lạp tế bào cây thuốc lá và cà chua. Qua nghiên cứu biến nạp gen bằng phương pháp sử dụng vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens đã tạo được cây lúa chuyển gen mang gen tạo acid béo omega-7 (acid palmitoleic). Một số vấn đề mới hiện nay trong lĩnh vực công nghệ gen thực vật như chuyển gen vào lục lạp cũng đã được đầu tư thực hiện.

Hướng Công nghệ vi sinh ứng dụng và công nghệ biến đổi sinh học

Viện đã tập trung vào nghiên cứu, triển khai sản xuất và ứng dụng nhiều chế phẩm sinh học, đấu tranh sinh học vào trong phát triển nông, lâm, ngư nghiệp và công nghiệp chế biến thực phẩm, xử lý môi trường và cả cải tiến phương thức sản xuất thực phẩm cho người như các chế phẩm sinh học BIO-I, BIO-II, BIO-H, kích thích ra hoa, tạo quả... và cải tiến công nghệ sản xuất nước tương không chứa 3-MCPD, chế phẩm bổ sung visinh vật hệ tiêu hóa người và động vật. Đã nhận được nhiều giải thưởng VIFOTECH, WIPO và một số giải thưởng sáng tạo kỹ thuật.

Nghiên cứu xử lý ô nhiễm môi trường bằng biện pháp sinh học, xử lý nước thải trại nuôi heo, xử lý rác thải sinh hoạt. Đã nhận được 2 giải thưởng sáng tạo khoa học cấp nhà nước và TP. HCM. Tham gia xây dựng kế hoạch, tư vấn thiết kế, giám sát cho các khu xử lý chất thải của các khu công nghiệp. Đã xây dựng và chuyển giao quy trình sản xuất chế phẩm BIO-HR đơn giản, chất lượng ổn định dùng trong xử lý nước thải sau khi chưng cất cồn. Công nghệ được nhận giải thưởng môi trường của WIPO. Xây dựng thành công hệ thống chuyển hóa sinh khối rong biển di động, được công bố trên Vietnam News (press release) số ngày 14/01/2013 và mạng chuyên ngành quốc tế BioDigest; thực nghiệm dùng chiết suất protein rong biển thay thế bột cá và đậu nành ở các tỷ lệ khác nhau trong thức ăn nuôi tôm công nghiệp đã được triển khai đạt kết quả tốt tại phòng thí nghiệm khoa Thủy sản Đại học Cần Thơ; đánh giá trữ lượng và tiềm năng phát triển sinh khối rong biển tại các tỉnh nuôi tôm ven biển Đồng bằng sông Cửu Long

Hướng Công nghệ Các chất có hoạt tính sinh học

Tách chiết, phân tích và định tên hoạt chất sinh học từ cây thông đỏ, cây trinh nữ hoàng cung. Tách chiết và tạo chế phẩm pancreatin từ phụ phế thải chăn nuôi và ứng dụng nó trong chăn nuôi, chế tạo và sử dụng chế phẩm Superferon, Ethephon trong y học và nông nghiệp. Tách chiết các chất có hoạt tính sinh học trừ sâu trong hạt và lá neem Ấn Độ, thử hoạt tính phòng trừ côn trùng. Thăm dò khả năng chữa bệnh của cây thuốc nam, sản xuất chế phẩm phòng trừ bệnh thối rễ tiêu và chế tạo chế phẩm oligoglucosamin có hoạt tính sinh học. Các sản phẩm từ dự án Interferon và Ethephon đã được thị trường trong nước rất ưa chuộng và góp phần không nhỏ trong việc hạ giá bán các sản phẩm cùng loại trên thị trường, có thể giảm 50-55%. Đã tạo ra và ứng dụng được sản phẩm chứa hạt nano Fe/Al LDH làm tăng khả năng chịu phèn của các giống lúa cao sản, hoặc chất lượng tốt (những giống lúa không có khả năng chịu phèn) có thể trồng được trên đất phèn, xây dựng thành công môi trường phèn nhân tạo để trồng lúa trong phòng thí nghiệm.

Hướng nghiên cứu công nghệ tế bào động vật

Hoàn thiện công nghệ nuôi cấy tế bào động vật (tế bào côn trùng Sf9), tạo được bộ kit xác định bệnh virus tôm và sản xuất chế phẩm tăng tính kháng bệnh tôm. Kết quả nghiên cứu thuộc hướng này đã được trao tặng giải nhất cuộc thi sáng tạo khoa học và đang được Cục Sở hữu trí tuệ xét cấp bằng cho 2 giải pháp hữu ích. Nghiên cứu và sử dụng các loài nhện bắt mồi để phòng trừ nhện hại quy mô nhà lưới, nhà kính và trên đồng ruộng.

Triển khai ứng dụng công nghệ tạo phôi in vitro, xác định giới tính và cấy chuyển phôi bò sữa, sử dụng các loại hóc môn sinh sản giải quyết vấn đề chậm sinh, vô sinh đối với bò sữa, bò thịt. Thu thập, nuôi cấy và bảo quản tế bào của một số động vật hoang dã.

Hiện nay Viện đang chú ý phát triển nghiên cứu tế bào gốc. Đang chủ yếu tập trung nghiên cứu công nghệ tế bào gốc động vật, bước đầu là tế bào gốc phôi chuột, phôi bò và khả năng tạo tế bào gốc từ tế bào mỡ, tủy xương.... cũng đã có những nghiên cứu chuyển gen động vật như ở cá cảnh...

sinh hoc nhiet doi 7
Thụ tinh trong ống nghiệm tạo phôi bò

sinh hoc nhiet doi 8
Nhân giống heo rừng Tây Nguyên thuần

Hướng nghiên cứu Sinh thái, Tài nguyên và Môi trường

Nhiều loài thực vật động vật mới đã được thu thập, định danh và nghiên cứu như các loài cây họ Lan, loài Thu Hải Đường, loài bò sát, loài lưỡng cư...

Quy hoạch, phát triển và Bảo tồn ĐDSH các loài và sinh cảnh đặc trưng của hơn 19 Vườn quốc gia khu vực phía Nam. Đánh giá tác động môi trường từ đó đề xuất các hướng bảo vệ, phát triển và bảo tồn. Quan trắc chất lượng nước các sông, hồ, nghiên cứu Tảo độc.

Với tiềm lực hiện tại, Viện SHNĐ hy vọng sẽ gặt hái nhiều kết quả hơn trong nghiên cứu khoa học trong tương lai. 

Một số hình ảnh hoạt động NCKH Viện Sinh học nhiệt đới

sinh hoc nhiet doi 1
Hoàn thiện quy trình nhân giống invitro cây cọc rào 

sinh hoc nhiet doi 2Hệ thống nuôi cấy quang tự dưỡng

sinh hoc nhiet doi 4
Xây dựng bộ sưu tập lan rừng Việt Nam

sinh hoc nhiet doi 5
Khảo sát điều kiện nuôi cấy ảnh hưởng đến sinh trưởng và hàm lượng Plumbagin trong rễ tơ cây Bạch hoa xà (Blumbago zeylanica)

sinh hoc nhiet doi 6
Xác định Soponin từ sâm Ngọc Linh

sinh hoc nhiet doi 9
Phát hiện loài mới cho khoa học

 Nguồn tin: Viện Sinh học nhiệt đới
Xử lý tin: Bích Diệp

 

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: thongtin@vast.vn
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".