Tập thể - cá nhân tiêu biểu

Chân dung nhà khoa học: GS. Bùi Công Quế với những kỷ niệm về hành trình gian khó nghiên cứu địa chất và địa vật lý biển Việt Nam

Cuối năm 1975, sau khi hoàn thành bảo vệ luận án Tiến sỹ Địa vật lý ở Liên xô, đồng chí Bùi Công Quế đã được nhận vào làm việc ở Viện Khoa học Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam). Khi đó, cơ sở chính của Viện tại Nghĩa Đô, Hà Nội còn rất chật hẹp, trang thiết bị và các phòng thí nghiệm đều còn thô sơ và thiếu thốn, kinh phí Nhà nước cấp còn rất hạn chế, việc đào tạo cán bộ, xây dựng tiềm lực, chuẩn bị điều kiện cho những hướng nghiên cứu mới và thiết thực đối với chiến lược phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước sau chiến tranh được coi là nhiệm vụ chính.

dcb1Ngay khi về nhận công tác ở Viện Các khoa học về Trái đất, đồng chí Quế đã được Viện ủng hộ, tạo điều kiện xây dựng một tập thể khoa học theo hướng địa vật lý ứng dụng, triển khai công tác tự đào tạo nghiên cứu sinh và xúc tiến một số đề tài nghiên cứu về các trường địa vật lý và cấu trúc sâu vỏ Trái đất trên lãnh thổ và vùng biển Việt Nam. Được giao chủ trì thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học trọng điểm cấp Nhà nước “Đặc điểm các trường địa vật lý thềm lục địa Việt Nam và các vùng kế cận”, thuộc chương trình Nghiên cứu biển 48B, giai đoạn 1986-1990, đồng chí cùng đơn vị hợp tác Tổng cục Dầu khí để tổng hợp kết quả điều tra khảo sát và thành lập các bản đồ địa vật lý đầu tiên của Việt Nam trên vùng thềm lục địa, phục vụ kịp thời và hiệu quả cho công tác tìm kiếm thăm dò khoáng sản mà trọng tâm là các mỏ dầu và khí đốt. Với kết quả đề tài xuất sắc, đồng chí được Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng khen thưởng (quyết định 357-CT ngày 2/11/1991) và nhận Bằng khen của Ủy ban khoa học và kỹ thuật Nhà nước.

Trong những năm đầu thập niên 90, với sự hợp tác, giúp đỡ của Liên Xô, công tác điều tra nghiên cứu địa chất và địa vật lý biển ở Việt Nam được đẩy mạnh nhằm phục vụ chiến lược ngành công nghiệp dầu khí vừa ra đời. Tập thể khoa học địa vật lý đã không ngừng lớn mạnh và đã trở thành Trung tâm Vật lý địa cầu ứng dụng trực thuộc Viện Khoa học Việt Nam năm 1989. Trung tâm đã cùng với Viện Dầu khí thuộc Tổng công ty Dầu khí Việt Nam thực hiện thành công đề tài nghiên cứu trọng điểm cấp Nhà nước “Địa chất, địa động lực và tiềm năng khoáng sản vùng biển Việt Nam và kế cận”, trong chương trình Nghiên cứu biển KT-03, 1991- 1995. Là giám đốc trung tâm, chủ nhiệm đề tài, đồng chí đã tạo được mối quan hệ hợp tác chặt chẽ và hiệu quả với các đơn vị nghiên cứu khác của các ngành địa chất và dầu khí, phát huy thế mạnh đưa khoa học và công nghệ tiên tiến bám sát thực tế phục vụ sụ nghiệp công nghiệp hóa đất nước.

Năm 1993, Viện Khoa học Việt Nam được cải tổ và đổi tên thành Trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ Quốc gia. Do yêu cầu tăng cường điều tra nghiên cứu biển phục vụ chiến lược phát triển KTXH, lãnh đạo Trung tâm đã quyết định thành lập Phân viện Hải dương học tại Hà Nội trên cơ sở hợp nhất Trung tâm Vật lý địa cầu ứng dụng và một phần của Trung tâm Địa chất biển. Phân viện là một đơn vị độc lập của Viện Hải dương học có nhiệm vụ chính là điều tra nghiên cứu địa chất và địa vật lý biển và những vấn đề tài nguyên môi trường liên quan. Từ 1993 đến 1998, Phân viện đã được giao chủ trì thực hiện liên tiếp 03 đề tài điều tra nghiên cứu về địa chất, địa vật lý và môi trường trên vùng quần đảo Trường Sa trong chương trình Biển Đông và Trường Sa của Nhà nước. Với sự phát triển và lớn mạnh nhanh chóng, năm 2005, Phân viện được đổi tên thành Viện Địa chất và Địa vật lý biển trực thuộc Viện KHCN Việt Nam và năm 2008 trở thành Viện nghiên cứu cấp Quốc gia theo Nghị định 62/2008/NĐ-CP của Chính phủ. Ngay từ khi thành lập đến nay, Viện liên tiếp triển khai thực hiện và hoàn thành nhiều đề tài, dự án điều tra nghiên cứu trên các vùng quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Kết quả là có hàng chục chuyến điều tra khảo sát của các tập thể cán bộ khoa học của Viện được thực hiện trên vùng biển và các đảo xa xôi hiểm trở này. Để tăng cường quy mô và chất lượng các khảo sát, Viện đã xây dựng và vận hành khá liên tục trạm địa vật lý trên đảo Trường Sa. Các kết quả điều tra nghiên cứu từ các đề tài Trường Sa của Viện đã được tổng hợp thành bộ tư liệu gồm các tập số liệu, các bản đồ, các chuyên khảo và báo cáo,… đã và đang phục vụ hiệu quả cho nhiều lĩnh vực hoạt động của Nhà nước trong thời gian qua.

Năm 1996, đồng chí Quế được Nhà nước phong học hàm Giáo sư cũng là lúc được Bộ Khoa học và Công nghệ và Ban chủ nhiệm Chương trình nghiên cứu biển KHCN-06 giao chủ trì thực hiện đề tài trọng điểm cấp Nhà nước “Cơ sở khoa học để xác định ranh giới ngoài thềm lục địa Việt Nam”. Đề tài đã được thực hiện với sự hợp tác, phối hợp của nhiều bộ ngành trong nước, đã vận dụng Công ước 1982 của Liên hợp quốc về luật biển vào việc xác định đường ranh giới ngoài của thềm lục địa của Việt Nam được mở rộng trên Biển Đông theo luật quốc tế và theo kết quả điều tra nghiên cứu của chúng ta về địa chất kiến tạo và địa vật lý trên Biển Đông. Sau khi hoàn thành xuất sắc đề tài này vào năm 1998, Viện tiếp tục đã trở thành đơn vị chủ trì về khoa học trong dự án quốc gia của Bộ ngoại giao xác định ranh giới ngoài thềm lục địa Việt Nam và thành lập Báo cáo quốc gia xác định ranh giới ngoài của TLĐ Việt Nam gửi Liên hợp quốc năm 2009.

Năm 2001, sau khi hoàn thành đề tài “Xây dựng để xuất bản các bản đồ địa chất và địa vật lý vùng biển Việt Nam”, Chương trình nghiên cứu biển KHCN-06 (1998- 2000), đồng chí Quế được giao chủ trì thực hiện đề tài “Xây dựng tập bản đồ những đặc trưng cơ bản về điều kiện tự nhiên và môi trường vùng biển Việt Nam và kế cận”, thuộc Chương trình KC.09.02 (2001-2005). Đây là điều kiện thuận lợi để Viện tiếp tục chủ trì và thực hiện đề tài trọng điểm cấp Nhà nước “Biên tập và xuất bản tập bản đồ các điều kiện tự nhiên và môi trường vùng biển Việt Nam và kế cận” năm 2006-2007,  xuất bản 63 bản đồ với khổ in 59x63 cm bằng hai ngôn ngữ: tiếng Việt và tiếng Anh, làm cơ sở cho việc quản lý - phát triển kinh tế biển và thăm dò tìm kiếm khoáng sản cũng như phục vụ công tác đấu tranh duy trì chủ quyền trên biển.

Năm 2007, đồng chí Quế được cử làm Viện trưởng Viện Vật lý địa cầu, cùng với việc chuẩn bị xây dựng dự án đầu tư xây dựng và hiện đại hóa hệ thống các trạm động đất, xây dựng Trung tâm báo tin động đất và cảnh báo sóng thần để thực hiện quy chế báo tin động đất và cảnh báo sóng thần, đồng chí đã được Bộ Khoa học và Công nghệ giao chủ trì thực hiện đề tài độc lập cấp Nhà nước “Nghiên cứu đánh giá độ nguy hiểm động đất và sóng thần ở vùng ven biển Việt Nam và đề xuất các giải pháp phòng tránh khắc phục hậu quả”. Tập thể khoa học Viện Vật lý địa cầu phối hợp với các đơn vị nghiên cứu trong và ngoài Viện KHCN Việt Nam hoàn thàn tốt sau 3 năm và đây cũng là cơ sở để biên soạn chuyên khảo “Nguy hiểm động đất và sóng thần ở vùng ven biển Việt Nam”, Bùi Công Quế chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học tự nhiên và Công nghệ xuất bản năm 2010. Chuyên khảo này đã giành giải Bạc “Sách hay” trong triển lãm sách toàn quốc năm 2011.

Hợp tác quốc tế là yêu cầu quan trọng và không thể thiếu trong điều tra nghiên cứu địa chất và địa vật lý biển. Năm 1995, Việt Nam gia nhập khối ASEAN và đến năm 1996, Phân viện được Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ KHCN giao chủ trì thực hiện dự án hợp tác quốc tế trong chương trình hợp tác kinh tế Ôxtrâylia-ASEAN “Quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường dải ven biển Viêt Nam”. Dự án được hoàn thành sau 3 năm với kết quả đào tạo tập huấn chuyển giao công nghệ mới cho hàng chục cán bộ khoa học trẻ và thành lập ở Phân viện một Trung tâm dữ liệu quốc gia về tài nguyên môi trường ven biển.

Trong các năm 2007-2009, đồng chí được giao làm chủ nhiệm phía Việt Nam trong dự án hợp tác khoa học Việt Nam- New Zealand “Đánh giá độ nguy hiểm và rủi ro sóng thần và ứng phó của Việt Nam”. Dự án được cơ quan phát triển quốc tế của New Zealand tài trợ thực hiện chuyển giao công nghệ mới cho Việt Nam trong đánh giá độ nguy hiểm, dự báo, cảnh báo động đất sóng thần và các giải pháp ứng phó đối với loại thiên tai này trong điều kiện của Việt Nam. Kết quả của dự án cũng là cơ sở khoa học để xây dựng và triển khai hoạt động của Trung tâm Báo tin động đất và cảnh báo sóng thần của Việt Nam trong thời gian qua.

Với những kinh nghiệm có được qua việc tổ chức và triển khai các đề tài dự án hợp tác quốc tế điều tra nghiên cứu biển, năm 2009- 2011, đồng chí được Viện KHCN Việt Nam cử làm phó chủ nhiệm “Chương trình hợp tác với các nước điều tra nghiên cứu tài nguyên và môi trường trên Biển Đông”, dự án 19, đề án 47 của Nhà nước. Do quy mô rộng lớn và tầm quan trọng của các hoạt động hợp tác quốc tế trong khoa học, dự án được Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam trực tiếp chủ trì và đã hoàn thành tốt đẹp, đóng góp cho nhà nước nhiều kiến nghị hoàn thiện và đổi mới cơ chế, chính sách để tăng cường và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong điều tra nghiên cứu biển ở nước ta.

Đến tháng 5 năm 2014, Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam đã qua 39 năm hoạt động và phát triển, luôn xứng đáng là Trung tâm khoa học và công nghệ hàng đầu và lớn nhất của cả nước. Là một cán bộ khoa học đã gắn bó với cơ quan này trong suốt thời gian qua đồng chí Quế luôn cảm thấy tự hào vì luôn có được những cơ hội và điều kiện tốt để phấn đấu thực hiện ước mơ và hoài bão của mình. Những kết quả khiêm tốn mà đồng chí đã đạt được trong hoạt động khoa học cũng như sự ghi nhận và đánh giá cao của Viện và Nhà nước như tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và Công nghệ năm 2005 (đồng tác giả Atlas quốc gia Việt Nam), Huân chương lao động hạng Ba năm 2010,… đã là sự động viên và cổ vũ lớn đối với đồng chí, song điều làm cho đồng chí thấy phấn khởi và tin tưởng nhất chính là sự lớn mạnh và phát triển không ngừng của Viện qua mỗi năm và cùng với sự phát triển đó là sự trưởng thành và lớn mạnh của đội ngũ cán bộ khoa học với nhiệt tình và niềm đam mê cháy bỏng luôn gắn bó với Viện trong mọi hoàn cảnh.

Nguồn tin: Viện Địa chất và Địa vật lý biển
Xử lý tin: Minh Tâm

 

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: thongtin@vast.vn
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".